GIỚI THIỆU TRƯỜNG GIỚI THIỆU TRƯỜNG

Sáng kiến cấp tỉnh 

Giới thiệu về trường 
Văn bản cấp trên Văn bản cấp trên
Thông báo Thông báo
Số liệu - báo cáo Số liệu - báo cáo
Hệ điều kiện Hệ điều kiện
Liên kết website Liên kết website
Trả lời ý kiến - đóng góp Trả lời ý kiến - đóng góp
Bình chọn Bình chọn
Theo bạn, trang Thông tin điện tử này như thế nào?

a. Rất tốt
b. Tạm được
c. Chưa đạt
d. Kém

Bản in

Sáng kiến cấp tỉnh


PhÇn Néi dung

-----------

SÁNG KIẾN

TỔ CHỨC LỚP HỌC THEO MÔ HÌNH

KHÔNG BỤC GIẢNG  Ở TIỂU HỌC

========

PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ

1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Theo tinh thần Nghị quyết Hội nghị lần thứ 8, Ban Chấp hành Trung ương khóa XI (Nghị quyết số 29-NQ/TW) đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo. Đối với giáo dục phổ thông, tập trung phát triển trí tuệ, thể  chất, hình thành phẩm chất, năng lực công dân, phát hiện và bồi dưỡng năng khiếu, định hướng nghề  nghiệp cho học sinh. Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, chú trọng giáo dục lý tưởng, truyền thống, đạo đức, lối sống, ngoại ngữ, tin học, năng lực và kỹ năng thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn. Phát triển khả năng sáng tạo, tự học, khuyến khích học tập suốt đời. Theo tinh thần đó thì học sinh là trung tâm của hoạt động học cho nên  cần có sự đổi mới trong tất cả các hoạt động dạy và học: từ việc xây dựng nội dung chương trình sách giáo khoa, các phương pháp dạy học, mô hình lớp học, kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh,… Tất cả đều hướng tới phát triển phẩm chất năng lực ở người học theo quan điểm nhẹ nhàng động viên khuyến khích sự cố gắng của học sinh. Trong đó sự đổi mới cách tổ chức lớp học cũng là một yếu tố rất quan trọng.

Trong nền giáo dục nước ta từ khi bắt đầu hình thành ( trong giáo dục thời phong kiến) thì mô hình một thầy giáo (thầy đồ) ngồi trên một cái phản hay một cái chõng ở dưới là các học trò (mỗi trò một bàn con). Trong quá trình học thầy đọc trước trò đọc sau các bài trong tam tự kinh, ngũ kinh (gồm kinh thư, kinh dịch, kinh thi, kinh lễ, kinh nhạc), tứ thư,… sau đó thầy giảng chữ và viết chữ học sinh làm theo. Tiếp theo tới giáo dục thời Pháp thuộc đã hình thành lên lớp học phòng học trong đó có phấn trắng, bảng đen, bàn giáo viên và bục giảng (mô hình lớp học tư bản chủ nghĩa của nước thuộc địa). Mô hình trên tiếp tục duy trì phát triển phù hợp với lớp học xã hội xã hội chủ nghĩa như ngày nay.

Trong  các mô hình lớp học ở trên, bục giảng bàn giáo viên là một vùng địa linh độc tôn chỉ dùng chủ yếu cho giáo viên. Trên đó giáo viên truyền thụ kiến thức cho người học vì vậy mô hình này vô hình chung đã biến người giáo viên thành người truyền thụ kiến thức một chiều cho học sinh còn học sinh là người học thụ động chỉ nghe và ghi lại những lời thầy cô giảng trên bục giảng.

 Vì thế cho nên hai mô hình lớp học trên cố một số hạn chế sau: Học sinh tiếp thu kiến thức thụ động; Giáo viên thực hiện hoạt động dạy học theo phương pháp truyền thống thầy giảng trò ghi theo phương châm nhồi nhét; Học sinh hạn chế phát triển năng lực cá nhân cụ thể là: tư duy độc lập, khai thác tài lệu tổng hợp kiến thức, phát triển ngôn ngữ, hợp tác làm việc theo nhóm và đặc biệt là độc lập quá trình học với thực hành tiếp thu kiến thức chuyên sâu hàn lâm mà thiếu tinh thần sáng tạo hoàn thiện kĩ năng thực tiễn;    

Với giáo viên trong quá trình lên lớp không thu được các thông tin ngược chiều từ người học cho nên bài học thiếu sáng tạo bài năm trước dùng cho năm sau mà thiếu bổ sung cho phù hợp hơn nữa học sinh cho rằng những gì thầy nói là tôn chỉ, chí tôn và thầy luôn đúng. Một nhược điểm nữa là học sinh không được giao lưu với nhau trong quá trình học. Lớp học có bục giảng thì nơi đó học sinh rất sợ vì khi lên đó các em phải đối diện với tâm lý chung là lo sợ (có thể cho là mình bị phạt, thiếu tự tin trước mặt đông người).

Tâm lý học sinh tiểu học thích cái mới, cái tác động trực quan đến thị giác của các em. Học sinh tiểu học là độ tuổi hiếu động thích giao lưu nên không thể ngồi một vị trí trong thời gian quá lâu, các em thích sự tự do không bó buộc.

Hiện nay học sinh tiểu học của chúng ta rất hạn chế về kĩ năng sống, kĩ năng giao tiếp, kĩ năng đàm thoại, kĩ năng làm việc nhóm. Không chỉ riêng học sinh tiểu học mà phần lớn học sinh sinh viên Việt Nam khi vào chỗ đông người có tâm lí “ao làng” sợ đám đông. Khi chúng tôi thực hiên nghiên cứu mô hình này nhằm hai mục đích: Một là khắc phục những hạn chế mà mô hình lớp học truyền thống đạt ra. Nhằm giúp học sinh tích cực hơn trong quá trình học làm mềm hoạt động học tập ở tiểu học “học mà chơi – chơi mà học”. Trong mỗi tiết học học sinh đều thấy thoải mái nhẹ nhàng thân thiện giảm áp lực học tập, giảm tải cho học sinh. Học sinh thấy mỗi ngày đền trường là một ngày vui; Hai là khắc phục sự hạn chế kĩ năng thuyết trình, đứng trước đám đông làm việc nhóm, khai thác và sàng lọc thông tin.

2. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU

Qua việc thực hiện nghiên cứu các mô hình lớp học có bục giảng mềm- bục giảng chúng tôi sẽ áp dụng - một số mô hình vào tổ chức một số tiết học trên lớp của một số môn học nhằm phát huy các ưu điểm của nó và hạn chế các nhược điểm của mô hình lớp học truyền thống. Trên cơ sở giúp cho hoạt động học tập diễn ra đa dạng mà hiệu quả cao trong hình thành và phát triển năng lực ở người học. Sau đó chúng tôi sẽ nhân rộng mô hình này ra nhiều tiết học và nhiều lớp học khác.

3. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

Hai mô hình lớp học:

- Lớp học có bục giảng mềm (trong phòng học hiện tại ở địa phương).

- Lớp học không bục giảng (tổ chức hoạt động học ngoài phòng học)

4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Trong đề tài chúng tôi có sử dụng phương pháp phân tích cứ liệu trên mức độ hiểu bài và hừng thú tham gia của học sinh. So sánh kết quả hiểu bài của mô hình khác nhau: mô hình có bục giảng – và không có bục giảng.

5. GIỚI HẠN ĐỀ TÀI

Đối tượng mà chúng tôi nghiên cứu trong đề tài là học sinh lớp 4A1Trường Tiểu học Thụy Duyên năm học 2013 - 2014 và học sinh lớp 5A1 Trường Tiểu học Thụy Phong năm học 2014 – 2015.

6. CÁC BƯỚC TIẾN HÀNH

Bước 1: Tổ chức dạy học theo hai mô hình (mô hình lớp học truyền thống – mô hình lớp học không bục giảng).

Bước 2: Thu thập thông tin từ người học qua phiếu thăm dò với 3 mức độ hứng thú (cao, bình thường, thấp)

Bước 3: Đánh giá kết quả học tâp học sinh theo 2 mức (đạt , chưa đạt)

Bước 4: Tổng hợp phân tích số liệu đưa ra kết luận.

Bước 5: Nhân rộng, phổ biến mô hình với đồng nghiệp và tiếp thu thông tin phản hồi.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

PHẦN II: NỘI DUNG

I. CƠ SỞ LÝ LUẬN – Trích Nghị quyết số 29-NQ/TW (Nghị quyết Hội nghị lần thứ 8, Ban Chấp hành Trung ương khóa XI)

Quan điểm và cơ sở lý luận sáng kiến tôi viết được dựa trên tinh thần Nghị quyết số 29-NQ/TW. Trong đó chúng tôi trích dẫn đầy dủ phần quan điểm chỉ đạo còn phần mục tiêu và  các giải pháp chúng tôi xin phép được lược trích những nội dung có liên quan tới bậc học tiểu học.

1- Quan điểm chỉ đạo

1.1. Giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước và của toàn dân. Đầu tư cho giáo dục là đầu tư phát triển, được ưu tiên đi trước trong các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội.

1.2. Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục  và đào tạo là đổi mới những vấn đề lớn, cốt lõi, cấp thiết, từ quan điểm, tư tưởng chỉ đạo đến mục tiêu, nội dung, phương pháp, cơ chế, chính sách, điều kiện bảo đảm thực hiện; đổi mới từ sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước đến hoạt động quản trị của các cơ sở giáo dục - đào tạo và việc tham gia của gia đình, cộng đồng, xã hội và bản thân người học; đổi mới ở tất cả các bậc học, ngành học. Trong quá trình đổi mới, cần kế thừa, phát huy những thành tựu, phát triển những nhân tố mới, tiếp thu có chọn lọc những kinh nghiệm của thế giới; kiên quyết chấn chỉnh những nhận thức, việc làm lệch lạc. Đổi mới phải bảo đảm tính hệ thống, tầm nhìn dài hạn, phù hợp với từng loại đối tượng và cấp học; các giải pháp phải đồng bộ, khả thi, có trọng tâm, trọng điểm, lộ trình, bước đi phù hợp.

1.3. Phát triển giáo dục và đào tạo là nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài. Chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ  yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học. Học đi  đôi với hành; lý luận gắn với thực tiễn; giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội.

1.4. Phát triển giáo dục và đào tạo phải gắn với nhu cầu phát triển kinh tế - xã  hội và bảo vệ Tổ quốc; với tiến bộ khoa học và công nghệ; phù hợp quy luật khách quan. Chuyển phát triển giáo dục và đào tạo từ chủ yếu theo số lượng sang chú trọng chất lượng và hiệu quả, đồng thời đáp ứng yêu cầu số lượng.

1.5. Đổi mới hệ thống giáo dục theo hướng mở, linh hoạt, liên thông giữa các bậc học, trình độ và giữa các phương thức giáo dục, đào tạo. Chuẩn hoá, hiện đại hoá giáo dục và đào tạo.

1.6. Chủ động phát huy mặt tích cực, hạn chế mặt tiêu cực của cơ chế thị trường, bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa trong phát triển giáo dục và đào tạo. Phát triển hài hòa, hỗ trợ giữa giáo dục công lập và ngoài công lập, giữa các vùng, miền. Ưu tiên đầu tư phát triển giáo dục và đào tạo đối với các vùng đặc biệt khó khăn, vùng dân tộc thiểu số, biên giới, hải đảo, vùng sâu, vùng xa và các đối tượng chính sách. Thực hiện dân chủ hóa, xã hội hóa giáo dục và đào tạo.

1.7. Chủ động, tích cực hội nhập quốc tế để phát triển giáo dục và đào tạo, đồng thời giáo dục và đào tạo phải đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế để phát triển đất nước.

2. Mục tiêu tổng quát

…Xây dựng nền giáo dục mở, thực học, thực nghiệp, dạy tốt, học tốt, quản lý tốt; có cơ cấu và phương thức giáo dục hợp lý, gắn với xây dựng xã hội học tập; bảo đảm các điều kiện nâng cao chất lượng; chuẩn hóa, hiện đại hoá, dân chủ hóa, xã hội hóa và hội nhập quốc tế hệ thống giáo dục và đào tạo; giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa và bản sắc dân tộc. Phấn đấu đến năm 2030, nền giáo dục Việt Nam đạt trình độ tiên tiến trong khu vực. (trích)

3. Mục tiêu cụ thể

….Đối với giáo dục phổ thông, tập trung phát triển trí tuệ, thể  chất, hình thành phẩm chất, năng lực công dân, phát hiện và bồi dưỡng năng khiếu, định hướng nghề  nghiệp cho học sinh. Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, chú trọng giáo dục lý tưởng, truyền thống, đạo đức, lối sống, ngoại ngữ, tin học, năng lực và kỹ năng thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn….(trích)

Áp dụng vào trong sáng kiến chúng tôi chú ý đến việc hình thành kiến thức cũng như những kĩ năng mềm còn thiếu và yếu của học sinh Việt Nam nói chung và Thái Bình nói riêng. Trong đó sớm hình thành cho học sinh kĩ năng nghệ sơ đẳng từ đó sớm hình thành tư duy hướng nghiệp cho học sinh.

4.  Nhiệm vụ và giải pháp.

Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ  và đồng bộ các yếu tố cơ bản của giáo dục, đào tạo theo hướng coi trọng phát triển phẩm chất, năng lực của người học

…Đổi mới chương trình nhằm phát triển năng lực và phẩm chất người học, hài hòa đức, trí, thể, mỹ; dạy người, dạy chữ và dạy nghề. Đổi mới nội dung giáo dục theo hướng tinh giản, hiện đại, thiết thực, phù hợp với lứa tuổi, trình độ và ngành nghề; tăng thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn. Chú trọng giáo dục nhân cách, đạo đức, lối sống, tri thức pháp luật và ý thức công dân. Tập trung vào những giá trị cơ bản của văn hóa, truyền thống và đạo lý dân tộc, tinh hoa văn hóa nhân loại, giá trị cốt lõi và nhân văn của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Tăng cường giáo dục thể chất, kiến thức quốc phòng, an ninh và hướng nghiệp. Dạy ngoại ngữ và tin học theo hướng chuẩn hóa, thiết thực, bảo đảm năng lực sử dụng của người học. Quan tâm dạy tiếng nói và chữ viết của các dân tộc thiểu số; dạy tiếng Việt và truyền bá văn hóa dân tộc cho người Việt Nam ở nước ngoài.

Đa dạng hóa nội dung, tài liệu học tập, đáp ứng yêu cầu của các bậc học, các chương trình giáo dục, đào tạo và nhu cầu học tập suốt đời của mọi người.

Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kỹ năng của người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc. Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kỹ năng, phát triển năng lực. Chuyển từ học chủ yếu trên lớp sang tổ chức hình thức học tập đa dạng, chú ý các hoạt động xã hội, ngoại khóa, nghiên cứu khoa học. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong dạy và học. 

Xây dựng và chuẩn hóa nội dung giáo dục phổ thông theo hướng hiện đại, tinh gọn, bảo đảm chất lượng, tích hợp cao ở các lớp học dưới và phân hóa dần ở các lớp học trên; giảm số môn học bắt buộc; tăng môn học, chủ đề và hoạt động giáo dục tự chọn. Biên soạn sách giáo khoa, tài liệu hỗ trợ dạy và học phù hợp với từng đối tượng học, chú ý đến học sinh dân tộc thiểu số và học sinh khuyết tật. (trích)

Có thể nói sáng kiến này chúc tôi đã thực hiện các giải phpá ở trên nhằm hướng tới một nền giáo dục hiện đại theo hướng tinh giảm, rút gọn tích hợp chú ý đến sự phát triển các năng lực tư duy của học sinh.

II. MỘT SỐ MÔ HÌNH LỚP HỌC BỤC GIẢNG ẢO

Trong phần này các mô hình được chúng tôi trình bày theo cấu trúc:

+ Giới thiệu tổng quát mô hình.

+ Điều kiện sử dụng.

+ Cách sử dụng. (Một số ví dụ)

+ Phạm vi sử dụng cho các môn học.

+ Kết quả nghiên cứu thực nghiệm.

+ Những ưu điểm và hạn chế cần khắc phục.

1. Mô hình lớp học bục giảng mềm.

Trong điều kiện giáo dục hiện nay của nước ta phần lớn các lớp học đều được xây dựng theo mô hình truyền thống.

 
 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 


Với mô hình trên còn nhiều hạn chế vì vậy khi ta muốn đổi mới nhưng cũng không thể phá bỏ toàn bộ cái cũ và theo mô hình mới như vậy sẽ rất lãng phí. Để tận dụng các phòng học này chúng ta có thể làm mềm bục giảng để bục giảng thân thiện hơn với học sinh. Cách làm mền bục giảng chúng ta có thể tham khảo mô hình lớp học Vnen (lớp học Việt Nam mới). Giáo viên cùng học sinh tạo ra các mô hình trang trí bục giảng và bảng lớp như tranh ảnh, cây hoa, hình vẽ, thảm cỏ nhân tạo, sản phẩm thủ công,… Những cách trang trí đó làm cho bục giảng sinh động thân thiết gần gũi với học sinh từ đó học sinh thấy tự tin hơn khi lên bảng và không coi bục giảng là của riêng giáo viên. Ở đó các em có thệ tự trình bày ý tưởng bài học của mình cũng có thể thay luôn giáo viên việc giảng giải cho các bạn.

1.1. Tổng quát mô hình lớp học.

Lớp học giữ theo bố trí truyền thống: bàn giáo viên, bục giảng, bảng đen, bàn học sinh, nội thất và công cụ phụ trợ trong lớp.

Trong đó bàn giáo viên, bục giảng, bảng lớp và không gian xung quang lớp học đều được làm mềm bằng các thiết kế và bài trí (chú ý cần tôn trọng ý tưởng ý kiến, sản phẩm của học sinh hạn chế in sao). Bàn học sinh bố trí theo sơ đồ chữ U hay tổ chức nhóm. Có thể bỏ bàn giáo viên hay bàn giáo viên có thể đặt vị trí khác không nhất thiết là cạnh bảng lớp.

1.2. Điều kiện sử dụng.

Về cơ sở vật chất và phòng học: Lớp học cần có đầy đủ các yếu tố phụ trợ: máy vi tính, máy chiếu, máy hắt, bảng nhóm, bảng cài, bàn học sinh cơ động ( chúng ta có thể tận dụng bàn học hiện tại và lắp thêm các bánh xe vào 4 chân bàn để học sinh dễ dạng thay đổi vị trí), phòng học có đủ ánh sáng, số học sinh trong lớp không quá đông (khoảng từ 18 đến 26 em), lớp có cửa kính cách âm.

Về giáo viên: Nắm chắc kiến thức chuyên môn chuẩn bị tốt mọi phương án cho các tình huống, kĩ năng quản lý học hinh và kĩ năng điều hướng.

Về học sinh: Kĩ năng làm việc theo nhóm và hoạt động cá nhân tốt, di chuyển thay đổi vị trí nhanh an toàn, kĩ năng thuyết trình.

1.3. Cách sử dụng.

Mô hình lớp học này cách tổ chức gần giống với cách tổ chức lớp học hiện nay. Có điều khác là sự thay đổi bố trí bàn giáo viên và bàn học sinh theo không gian mở ở đó học sinh có thể tự do đi lại thảo luận không ngồi trật tự khoanh tay trên bàn như hiện nay. Khi đó giáo viên cần quản lí và điều hướng học sinh theo các phương pháp làm cá nhân, làm việc nhóm.

Ví dụ: Giúp học sinh hình thành công thức tính diên tích diện tích hình thang  

Chuẩn bị: Máy chiếu, máy hắt, các mảnh bìa hình thang, kéo, hồ dán, bảng nhóm.

 

Giáo viên tổ chức lớp học như sau:

Hoạt động của giáo viên

Hoạt động của học sinh

? Chúng ta đã biết tính diện tích của những hình nào?

 

- Đưa ra miếng bìa hình thang.

? Từ miếng bìa trên em có thể cắt và ghép được miếng bìa hình nào vừa kể ở trên?

- Giao các miếng bìa cho các nhóm và yêu cầu cắt và ghép.

! Các nhóm trình bày kết quả.

- Lắng nghe theo dõi như các thành viên khác của lớp và có thể đưa ra các câu hỏi thắc mắc.

 

 

 

 

 

- Giáo viên nhận xét điều hướng:

! Hs nhận xét diện tích hình cũ và hình mới.

! HS làm việc nhóm tiếp tính diện tích hình mới.

! Hs trình bày tính diện tích hình thang (Hình cũ) ghi công thức

- Giáo viên tổng hợp và điều hướng cho các nhóm chưa hoàn thành hoặc hoàn thành chưa tốt. (qua máy chiếu hoặc sản phẩm của học sinh)

Chú ý: + Chấp nhận các phương án đúng có thể cách kí hiệu có khác của các nhóm.

+ Trong quá trình làm việc học sinh có thể đi lại trong lớp và thảo luận với nhau

* Làm việc cá nhân các bài tập áp dụng công thức.

- Giáo viên liên hệ bài phát triển cho học sinh.

-TL: Hình vuông, hình chữ nhật, hình thoi, hình bình hành, hình tam giác.

- Quan sát.

- Em có thể cắt và ghép được hình tam giác, hình chữ nhật,…

 

- Làm việc theo nhóm.

 

- Trưng bày sản phẩm và thuyết trình cách làm

(Sản phẩm thể hiện trên bảng hay máy hắt, học sinh đứng trên bảng)

- Quá trình điều hành thảo luận giữa các nhóm do Ban quả trị lớp điều hành.

- Nhóm khác bổ sung.

 

- Hai hình có diện tích bằng nhau.

- Hs giải thích công thức

Trên đây chúng tôi chỉ đưa ra mô hình tổ chức cho một phần trong một tiết học của một phân môn trên cơ sở đó chúng ta cùng phát triển và sáng tạo cho phù hợp trong các phân môn cho từng nội dung cụ thể.

1.4.  Phạm vi sử dụng cho các môn học.

Qua nghiên cứu, chúng tôi thấy mô hình này rất phù hợp với các môn: Toán, Khoa học, Địa lý trong phần hình thành kiến thức mới và các bài có kiến thức chuyên sâu với đối tượng là học sinh năng khiếu.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

1.5. Kết quả nghiên cứu thực nghiệm.

Thực tiễn nghiên cứu chúng tôi có bảng tổng hợp:

Mô hình

Độ hứng thú của học sinh

Kết quả nắm kiến thức

Cao

Bình thường

Thấp

Đạt

Chưa đạt

Lớp học mô hình cũ

18,3%

58,8%

22,9%

88,3%

11,7%

Mô hình lớp học bục giảng mềm

75,4%

23,2%

1.4%

98,7%

1,3%

Từ bảng tổng hợp trên ta thấy cũng với phòng học truyền thống chúng ta chỉ cần thay đồi cách trang trí thân thiện hơn, bố trí chỗ ngồi hợp lý hơn, lớp học cơ động hơn và hoạt động dạy học mềm mại  tích cực thì kết quả đạt được là rất tốt. Học sinh hứng thú tham gia dẫn đến kết quả học tập cao hơn rất nhiều.

1.6. Những ưu điểm và hạn chế cần khắc phục.

+ Ưu điểm:

- Nâng cao sự hứng thú của học sinh.

- Học sinh chủ động tự tin.

- Học sinh không e ngại lên bảng trình bày ý kiến.

- Tiết học sôi nổi.

- Nội dung dạy học mềm mại.

- Nâng cao các năng lực cho học sinh: Thuyết trình, làm việc nhóm, vấn đáp, tư duy sáng tạo

- Giáo viên điều hướng làm chủ tiết học với vai trò là người giúp đỡ , hướng dẫn đánh giá, tổng hợp mà không làm hộ học sinh. Giảm dần vai trò giảng giải thuyết trình cổ điển.

- Phát huy tối đa công dụng của các công cụ hỗ trợ trong  phòng học.

+ Nhược điểm:

Tuy nhiên mô hình này cũng có một số điểm hạn chế: giáo viên khó quản lớp và đối diện với việc mất trật tự của học sinh, thường xuyên thay đổi vị trí của học sinh, chuẩn bị tốt nhiều tình huống cho tiết học, kĩ năng điều hướng cho học sinh; mô hình này không thể áp dụng rộng rãi cho tất cả các tiết học, mô hình cấu trúc bài học của SGK hiện nay chưa thật phù hợp.

2. Mô hình lớp học không bục giảng (Tổ chức giờ học ngoài lớp học)

1.1. Tổng quát mô hình lớp học.

Trên thế giới hiện nay tổ chức mô hình lớp học ngoài phòng học nhà trường là rất phổ biến nó được áp dụng trong tất cả các bậc học từ mầm non lên tới đại học. Ở Việt Nam hiện nay mô hình này khá là mới mẻ đi tiên phong chỉ có một số trường quốc tế với điều kiện kinh tế hùng mạnh còn các trường công lập còn chưa mấy để tâm đến. Ở địa phương chúng ta hiện nay mô hình này cũng đã có xuất hiện nhưng cũng chỉ là tiết ngoại khóa ở sân trường hay các buổi đi thăm quan nghĩa trang, di tích lịch sử ở địa phương chưa có chủ đề liên quan tới môn học, nội dung học. Cho nên việc áp dụng mô hình này trong dạy học là quá ít và hạn chế.

Bên cạnh đó mô hình lớp học không bục giảng (lớp học ngoài phòng học nhà trường) lại có quá nhiều ưu điểm nổi trội (chúng tôi trình bày ở phần sau) phù hợp với mục tiêu đổi mới giáo dục hiện nay của Bộ Giáo dục và Đào tạo đang thực hện đó là thay đổi hướng tới người học và sự hình thành các năng lực tư duy của họ.

Mô hình này được thực hiện như sau: Dựa vào nội dung cấu trúc bài học giáo viên sẽ xây dụng kế hoạch cho học sinh tham gia hoạt động học tập nhà trường có thể là: các trung tâm y tế, bệnh viện, làng nghề, công ty xí nghiệp, danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử, bảo tàng, cánh đồng, trang trại, phòng chiếu phim, phòng thí nghiệm,…Trước đó giáo viên chia nhóm học sinh và giao các nhiệm vụ vào các phiếu yêu cầu cho các nhóm. Giáo vên tổ chức học sinh tham gia hoạt động thực tế theo kề hoạch liên hệ. Học sinh làm việc nhóm. Thảo luận và tổng hợp ý kiến rút ra nội dung kiến thức cho mỗi bài học.

1.2. Điều kiện sử dụng.

Về điều kiện kinh tế: Giáo viên học sinh và nhà trường cần liên hệ phương tiện giao thông, chỗ ăn nghỉ.

Về giáo viên: Lập kế hoạch liên hệ nơi đến thực tế, quản lý học sinh, quan sát điều hướng học sinh khi làm việc nhóm; Chuẩn bị tốt kiến thức bài học, tổng hợp kiến thức và giúp học sinh kiểm định các thông tin thu thập trong quá trình học.

Về học sinh: Thâu thủ theo sự quản lý của giáo viên, thu thập thông tin lưu trữ thông tin lập kế hoạch thuyết trình và phản biện.

1.3. Cách sử dụng.

Trong mô hình này chúng tôi không lập kế hoạch dạy học như mô hình trên mà chỉ đưa ra nội dung học tập của môn học cụ thể và các gợi ý sử dụng.

Ví dụ 1: Trong môn khoa học lớp 4 và lớp 5 phần con người và sức khỏe trong đó có một số bài: Các bệnh lây qua đường tiêu hóa, Bệnh sốt rét, bệnh sốt xuất huyết, Bệnh viêm gan A, Bệnh béo phì, Bệnh HIV, Vệ sinh tuổi dậy thì,….

Bước 1: Giáo viên sẽ liên hệ với các cơ sở y tế: Phòng y tế của trường (nếu có), Trạm y tế xã, Bệnh viện gần nhất, Trung tâm y tế dự phòng.

Bước 2: Dựa vào phân bố bài học mà chia thành 2 phần : thực tế thu thập thông tin và thuyết trình trên lớp (căn chỉnh thời gian).

Bước 3: Giáo viên đưa cho học sinh hay nhóm học sinh một số gợi ý có liên quan bài học. Học sinh đến thực tế sẽ đọc các nhân viên y tế hướng dẫn giảng giải trả lời thắc mắc và có thể tiếp xúc với bệnh nhân để nhận biết các triệu chứng, gặp bác sĩ để được tư vấn và giải đáp thắc mắc (nếu có).

Bước 4: Tổ chức thảo luận trình bày kết quả thực tế

+ Đại diện học sinh trình bày.

+ Học sinh khác phản biện và nhận xét.

+ Giáo viên tổng hợp cùng học sinh đưa ra nôi dung bài học.

Trong bước này giáo viên cần chú ý sàng lọc ý kiến của học sinh rồi đưa ra nội dung bài học vừa sức với đối tượng phù hợp với chuẩn kiến thức kĩ năng.

Ví dụ 2: Trong môn lịch sử cũng với cách làm tương tự như trong ví dụ 1 nhưng giáo viên có thể dựa vào nội dung từng bài mà có thể chọn trong 4 phương án sau:

Phương án 1: Đưa học sinh đi tới các bảo tàng: Bài “Quyết chí ra đi tìm đường cứu nước” hay bài “Đảng Cộng sản Việt nam ra đời” có thể đưa tới Bảo tàng Hồ Chí Minh. Bài “Chiến dịch Việt Bắc Thu đông 1947 , mồ chôn giặc pháp”, “Chiến dịch biên giới 1950” giáo viên tổ chức học sinh đến Bảo tàng Quân đội Nhân dân Việt Nam,…Tại bảo tàng học sinh sẽ được các hướng dẫn viên giúp đỡ đồng thời các em sẽ tận mắt thấy các hiện vật và ghi chép các tư liệu, chụp ảnh các hiện vật liên quan cho mình cho nhóm.

Phương án 2: Đưa học sinh đến các di tích lịch sử: Đền, chùa, kinh thành,…: Trong bài về các triều đại nhà Nguyễn tới kinh thành Huế, nhà Lýđến đền Đô, làng Đường Lâm, nhà Trần đến Đền Trần ở Nam Định, nhà Hồ đến Thanh Hóa,…

Phương án 3: Tổ chức chiếu phim tư liệu cho học sinh: Điện Biên phủ, Điên Bên phủ trên không, đường Trường Sơn, đồng khởi Bến Tre,….

Phương án 4: Yêu cầu học sinh khai thác thông tin từ Internet và sách báo tư liệu

Giáo viên nên dựa vào điều kiện thực tế của nhà trường và phụ huynh học sinh chọn phương án cho phù hợp. Dù giáo viên thực hiện theo phương án nào cũng cần chú ý sàng lọc ý kiến của học sinh mà đưa ra nôi dung bài học vừa sức với đối tượng học sinh. Nếu chọn phương án 4 thì giáo viên cần nghiên cức kĩ thông tin tư liệu và tổng hợp cho chính xác bởi trong các thông tin từ internet có những thông tin không được kiểm định hay chưa chính xác.

Ví dụ 3: Môn Kĩ thuật có liên hệ cho học sinh tới thực tế ở các làng nghề, xí nghiệp, trang trại, cánh đồng,…

Trên đây chúng tôi chỉ đưa ra mô hình tổ chức cho một phân trong một tiết học của một phân môn trên cơ sở đó chúng ta cùng phát triển và sáng tạo cho phù hợp trong các phân môn cho từng nội dung cụ thể.

1.4.  Phạm vi sử dụng cho các môn học.

Qua nghiên cứu, chúng tôi thấy mô hình này rất phù hợp với các môn:

Lịch sử, Tiếng Việt (luyện từ và câu, tập làm văn), Địa lí, Khoa học,…

1.5. Kết quả nghiên cứu thực nghiệm.

Thực tiễn nghiên cứu chúng tôi có bảng tổng hợp:

Mô hình

Độ hứng thú của học sinh

Kết quả nắm kiến thức

Cao

Bình thường

Thấp

Đạt

Chưa đạt

Lớp học mô hình cũ

58,6%

25%

16,4%

72,92%

27,08

Mô hình lớp học không bục giảng

99%

1%

0%

100%

0%

Từ bảng tổng hợp trên ta thấy mức độ hứng thú của học sinh rất cao kết quả học tập hơn sự mong đợi đôi khi kết quả thu được của học sinh cao hơn nhiều chuẩn kiến thức kĩ năng.

1.6. Những ưu điểm và hạn chế cần khắc phục.

+ Ưu điểm:

- Nâng cao sự hứng thú tham gia tiết học của học sinh.

- Học sinh chủ động tự tin không e ngại lên bảng trình bày ý kiến.

- Tiết học sôi nổi hình thành nội dung bài học mềm mại.

- Nâng cao các năng lực cho học sinh: Thuyết trình, làm việc nhóm, vấn đáp, tư duy sáng tạo, khai thác sàng lọc thông tin.

- Thay đổi mạnh mẽ vai trò giáo viên từ người dạy sang Giáo điều hướng làm chủ tiết học với vai trò là người giúp đỡ , hướng dẫn đánh giá, tổng hợp mà không làm hộ học sinh. Giảm dần vai trò giảng giải thuyết trình cổ điển.

- Hướng nghiệp định hương nghề cho học sinh.

- Thay đổi mạnh mẽ hình thành kĩ năng giao tiếp cho học sinh không còn cảm giác ao làng sợ đám đông.

- Rèn kĩ năng sống: kĩ năng độc lập, tự phục vụ, giải quyết tình huống.

- Giáo dục tình yêu quê hương đất nước tự hào dân tộc.

- Tạo mối gắn kết tinh thần thân thiện giữa học sinh với học sinh.

+ Nhược điểm:

-         Mất nhiều thời gian.

-         Giáo viên vất vả trong quản lý học sinh.

-         Kinh tế là vấn đề khó khắc phục.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

PHẦN III: KẾT LUẬN

1. KẾT LUẬN

Sau một thời gian nghiên cứu và áp dụng vào thực tiến dạy học trên lớp cũng như phổ biến cho đồng nghiệp cùng thực hiện hai mô hình lớp học: bục giảng mềm và không bục giảng, kết quả cho thấy:

Học sinh rất hứng thú trong quá trình học, tiết học diễn ra sôi nổi nhẹ nhàng, kết quả ở học sinh là tiếp thu bài tốt không gây quá tải tiết học mềm mại.

Học sinh phát triển tốt kĩ năng hợp tác làm việc theo nhóm (họp nhóm, bầu nhóm trưởng, phân công nhiệm vụ, điều hành nhóm, lập kế hoạch thuyết trình).

Hình thành và phát triển cho học sinh kĩ năng thuyết trình, tự tin trước đám đông làm chủ tình huống.

Rút ngắn khoảng cách giữa giáo viên và học sinh. Giảm bớt công việc giảng giải một chiều của giáo viên đến với học sinh. Giáo viên chỉ là người hướng dẫn và điều hướng còn học sinh chủ động tiếp thu chiếm lĩnh kiến thức bài học. Trong quá trình học thường xuyên tạo ra mối giao lưu giữa giáo viên với học sinh, học sinh với học sinh. Điều này giúp giáo viên thu được các thông tin ngược chiều từ người học từ đó có sự điều chỉnh bổ sung cho hợp lí.

Hình thành cho học sinh rất nhiều kĩ năng mềm hoàn thiện kĩ năng sống cho học sinh tiểu học: kĩ năng giao tiếp, kĩ năng tự phục vụ, kĩ năng điều hướng, kĩ năng tìm hiểu khai thác thông tin, kĩ năng tự phục vụ, kĩ năng giải quyết vấn đề,… và còn rất nhiều kĩ năng khác.

            Trong phạm vi đề tài tôi chỉ đưa ra một số mô hình một số gợi ý cách làm mà chưa thể trình bày chi tiết và đầy đủ nhất. Còn rất mô hình hay cách làm tốt đang được nghiên cứu trên thực nghiệm chúng tôi sẽ giới thiệu sau.

2. BÀI HỌC KINH NGHIỆM

         Muốn áp dụng tốt mô hình lớp học không bục giảng  vào thực tiễn dạy học ở tiểu học giáo viên cần có những chuẩn bị và chú ý sau:

Trước mỗi bài học giáo viên cần nghiên cứu thật kĩ nội dung kiến thức bài học và liên quan, chuẩn bị tốt các tình huống giả định cho tiết học. Bởi đây là một tiết học mở cả về nội dung và hình thức không bó buộc hay lệ thuộc nhiều về sách giáo khoa hiện tại. Giáo viên luôn làm chủ tình huống học tập và điều hướng cho học sinh không để học sinh đi qua xa với nội dung học nếu không làm tốt được điều này thì lại phản tác dụng của mô hình ( tốn kém thời gian, tiền của mà hiệu quả giáo dục không cao). Vì vậy yêu cầu người giáo viên cần có kiến thức chuyên môn vững vàng, luôn quan sát quả lí học sinh điều hướng cho học sinh. Theo mô hình này thì người giáo viên có phần vất vả hơn nhưng hiệu quả thu được lại cao hơn rất nhiều.

Giáo vên cần lập kế hoạch liên hệ với các cơ sở tìm hiểu hệ điều kiện rồi đưa học sinh tới thực tế theo phương trâm tiết kiệm – an toàn – hiệu quả - phù hợp.

Việc tổ chức lớp học ngoài phòng học rất khó vì vậy cần tới sự giúp đỡ của lực lượng phụ huynh, nhà trường, cơ sở thực tế hoạt động học tập.

Đây là mô hình lớp học còn tương đối mới mẻ nên việc áp dụng nó cần cân nhắc với điều kiện thực tiễn.

Mô hình còn có một số hạn chế trong môn Toán và môn Tiếng Việt. Hơn nữa không phải tiết học náo chúng ta cũng áp dụng mà xét thấy lớp học mô hình truyền thống phù hợp với bài nào tiết nào thì chungsa ta cân nhắc sử dụng.

Lớp học xây dựng theo mô hình chúng tôi đưa ra ở trên còn phần hạn chế là giá cả chi phí cao hon mô hình truyền thống vì vậy chúng ta nên làm từ từ  từng bước rồi nhân rộng để giảm chi phí học tập cho học sinh và phụ huynh và giáo viên.

3. KIẾN NGHỊ

Hiện nay việc thực hiện các mô hình lớp học hiện đai ở địa phương còn nhiều hạn chế mà công cuộc đổi mới hiện đại hóa và hội nhập quốc tế của giáo dục rất mạnh mẽ. Chúng tôi đưa ra đây mô hình lớp học không bục giảng này kính mong các cấp quản lí giáo dục và bạn đồng nghiệp cùng trao đổi thảo luận để mô hình này sớm được sử dụng rộng rãi tại địa phương.

Khi thực hiện tổ chức lớp học theo mô hình lớp học bục giảng mềm và lớp học không bục giảng (ngoài phòng học) cũng có tốn kém nhất định định mong các cơ sở giáo dục và phụ huynh ủng hộ.

Cấu trúc sách giáo khoa hiện tại chưa thật phù hợp với mô hình lớp học mở như chúng tôi đã nêu nên cần có sự thay đổi nội dung cấu trúc sách giáo khoa theo kết cấu mở.

 Mong PGD tổ chức nhiều chuyên đề công bố các sáng kiến hay, chất lượng để giáo viên có cơ hội học tập đồng nghiệp đồng thời giáo viên cũng có dịp đưa sáng kiến của mình đến gần hơn với nhiều người hơn để kết quả giáo dục trong nhà trường ngày một nâng cao.

Mặt khác PGD cũng có thể có một thư viện trực tuyến sáng kiến kinh nghiệm của từng năm học từng bậc học để giáo viên có thể truy cập và chia sẻ kinh nghiệm hoặc tham khảo (nhưng không được sao chép thành sáng kiến của mình)

Trên đây là sáng kiến TỔ CHỨC LỚP HỌC THEO MÔ HÌNH KHÔNG BỤC GIẢNG  Ở TIỂU HỌC .. Vì giới hạn của một sáng kiến nên chúng tôi chưa đưa hết và triệt để các ví dụ sử tổ chức theo mô hình vì vậy chúng tôi tiếp tục nghiên cứu và bổ sung ở các sáng kiến tiếp theo. Đây chỉ là một sáng kiến nhỏ không tránh khỏi những thiếu sót. Tôi rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các đồng nghiệp và các lãnh đạo để tôi giảng dạy được tốt hơn.

                          Tôi  xin chân thành cảm ơn !

 

       HIỆU TRƯỞNG

 XẾP LOẠI SÁNG KIẾN                                                

Thụy Duyên, 18  ngày  tháng 11 năm 2014

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

NGƯỜI VIẾT SÁNG KIẾN

(kí, ghi rõ họ tên)

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Vũ Duy Hùng

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

    

PHÒNG GD & ĐT HUYỆN THÁI THỤY

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

 

1. Nghị quyết số 29-NQ/TW (Nghị quyết Hội nghị lần thứ 8, Ban Chấp hành Trung ương khóa XI)

2. Tâm lý học – NXB Giáo dục

3. Giáo trình tâm lý học tiểu học – NXB Đại Học Sư Phạm

4. Ứng sử sư phạm và giáo dục kĩ năng sống trong nền giáo dục hiện nay - Nhà xuất bản: Hồng Đức

5. Lí luận dạy học Tểu học - NXB Đại Học Sư Phạm

6. Thông tư số 30/TT/2014/TT-BGDĐT ngày 28 tháng 8 năm 2014 ban hành Quy định đánh giá học sinh tiểu học.

7. Dự án mô hình trường học mới tại Việt Nam – Bộ Giáo dục và Đào tạo.

 

 

 

 

 

 

 

MỤC LỤC

PHẦN

TRANG

PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ

1

PHẦN II: NỘI DUNG

4

I. CƠ SỞ LÝ LUẬN

4

II. MỘT SỐ MO HÌNH BỤC GIẢNG ẢO

8

1. Mô hình  lớp học bục giảng mềm

9

2. Mô hình lớp học không bục giảng

14

PHẦN III: KẾT LUẬN

19

1. KẾT LUẬN

19

2. BÀI HỌC KINH NGHIỆM

20

3. KIẾN NGHỊ

21

TÀI LIỆU THAM KHẢO

23

MỤC LỤC

24

 



Các thông tin khác:

Ý kiến - đóng góp Ý kiến - đóng góp
Thông tin liên hệ:

Trường Tiểu học Thụy Duyên

Xin để lại Email, Thông tin liên hệ sau phần nội dung, Ban giám hiệu sẽ trả lời bạn sớm nhất!

Cảm ơn bạn rất nhiều!

Mã xác nhận Mã xác nhận Tạo mã khác