Văn bản cấp trên Văn bản cấp trên
Thông báo Thông báo

GD tieu hoc 

Noi dung nhiem vu nam hoc 2011- 2012

Số liệu - báo cáo Số liệu - báo cáo
Hệ điều kiện Hệ điều kiện
Thu vien de thi

De thi HSG lop 1
giáo án lớp 3

Nội dung vắn tắt
Liên kết website Liên kết website
Trả lời ý kiến - đóng góp Trả lời ý kiến - đóng góp
Bình chọn Bình chọn
Theo bạn, trang Thông tin điện tử này như thế nào?

a. Rất tốt
b. Tạm được
c. Chưa đạt
d. Kém

Bản in

NGOẠI KHÓA PHÒNG CHỐNG MỘT SỐ BỆNH MÙA HÈ


    NGOẠI KHÓA PHÒNG CHỐNG MỘT SỐ BỆNH MÙA HÈ

 

 Hôm nay ngày  24/4/2017 CBGV cùng các em học sinh trường Tiểu học Thụy Chính  vui mừng chào đón  bác sĩ Nguyễn Văn Khoa - Trạm trưởng trạm y tế đã dành thời gian truyền thông tiết chuyên đề ngoại khoá về cách phòng chống một số bệnh : Quai bị, thuỷ đậu, sốt xuất huyết, ..... rất thiết thực, bổ  ích .

Nội dung buổi truyền thông 
 
CHỦ ĐỘNG PHÒNG NGỪA  BỆNH THỦY ĐẬU, QUAI B Ị, S ỐT XUẤT HUYẾT
Hiện nay d ịch bệnh bắt đầu xuất hiện và ngày càng tăng nhanh tại các khu dân cư đông đúc như nhà trẻ, mẫu giáo, trường học…. Để mỗi chúng ta không khỏi lo lắng về những bệnh truyền nhiễm này. Bài tuyên truyền giúp chúng ta có thêm kiến thức, kỉ năng phòng tránh bệnh cho bản thân và gia đình.
1.Bệnh quai bị là gì?
      Bệnh quai bị là một bệnh nhiễm trùng cấp tính do virus gây nên. Bệnh dễ lan truyền từ người này sang người khác một cách dễ dàng và thường xảy ra vào mùa thu, mùa đông khi thời tiết bắt đầu chuyển lạnh, và bệnh gia tăng theo mùa. Dịch bệnh thường xuất hiện ở những nơi dân cư đông đúc như trường học, chung cư …
2.Bệnh lây truyền như thế nào?
   -  Bệnh lây truyền chủ yếu qua đường hô hấp do tiếp xúc với nước bọt, hoặc các chất tiết ra từ mũi họng của người bệnh.
  -  Một người bị quai bị có khả năng lây truyền vi-rút 3 ngày trước khi có biểu hiện bệnh (trước khi tuyến nước bọt bị sưng) và khoảng 9 ngày sau khi khởi phát bệnh.
    Thời gian ủ bệnh (thời gian từ khi tiếp xúc với nguồn bệnh đến khi khởi phát bệnh) là 12 đến 25 ngày .
     -  Đối tượng dễ mắc bệnh quai bị: Tất cả những ai chưa từng bị quai bị lúc còn bé hoặc chưa được tiêm phòng vắc-xin ngừa quai bị đều có khả năng bị nhiễm bệnh. Triệu chứng thường xuất hiện bắt đầu từ ngày thứ 14 đến ngày thứ 21 sau khi nhiễm trùng
- Đối trượng dễ nhiễm bệnh nhất là trẻ em tuổi từ 10 đến 15 tuổi.
3. Các triệu chứng của bệnh.
     - Những triệu chứng xuất hiện rất sớm ngay cả trước khi các tuyến nước bọt bắt đầu sưng lên. Bệnh nhân mắc bệnh quai bị sẽ cảm thấy mệt mỏi, ăn không ngon, mất vị giác, và thông thường nhất là sốt và chứng đau đầu.
Biểu hiện thường gặp :
     - Dấu hiệu nhiễm trùng: Sốt cao, có thể lên đến 400C, khô miệng, nuốt đau, nhức đầu.
    - Sưng to tuyến nước bọt vùng dưới hàm ở 1 bên hoặc cả 2 bên .
    - Ở các trẻ vị thành niên có thể có sưng căng và đau tinh hoàn 1 bên hoặc 2 bên.
Bệnh tiến triển và tự khỏi trong vòng 10 ngày (nếu không có biến chứng).
4. Phòng ngừa bệnh quai bị.
   - Hiện nay bệnh quai bị chưa có thuốc điều trị nhưng bệnh quai bị có thể phòng ngừa được nhờ vào văcxin tiêm chủng. Thuốc tiêm chủng này có thể dùng cho bất cứ lứa tuổi nào trên 1 tuổi, liều 2 được tiêm trước tuổi dậy thì. Văcxin này an toàn, không gây sốt, khả năng bảo vệ đến 95% sau liều 1 và được bảo vệ đến 25 năm nữa sau liều 2.
   -Ngăn chặn dịch quai bị:
     Ở trường học, khi phát hiện bị mắc bệnh quai bị thì cần  nghỉ học ngay để tránh lây cho học sinh khác, không tiếp xúc với những người xung quanh, hoặc khi tiếp xúc phải mang khẩu trang. Thời gian cách ly người bệnh trong khoảng 10 ngày kể từ khi bắt đầu sưng tuyến mang tai.
     Trong thời gian dịch phát triển các bạn nên thường xuyên rửa tay với xà phòng, đảm bảo vệ sinh cá nhân hằng ngày. Làm sạch đường hô hấp bằng cách súc miệng với dung dịch nước muối hoặc các dung dịch sát khuẩn đường mũi họng có bán tại các hiệu thuốc tây.
      Hạn chế tiếp xúc với các bạn bị bệnh. Hạn chế tới những nơi tập trung đông người,     Đặc biệt tại các phòng chật hẹp nơi đang có dịch. Tăng cường sức khỏe bằng ăn uống đầy đủ chất dinh dưỡng, tập luyện thể dục và nghỉ ngơi hợp lý. Cần đến khám tại các cơ sở y tế ngay khi có biểu hiện bệnh.
 
4. Phương pháp điều trị bệnh quai bị.
       - Hiện chưa có thuốc điều trị đặc hiệu đối với quai bị. Việc điều trị bệnh chủ yếu là điềutrịtriệuchứngvànângcaothểtrạng:
     - Nằm nghỉ tuyệt đối (nhất là khi có biến chứng sưng tinh hoàn).
     - Dùng thuốc hạ sốt, giảm đau như Paracetamol, Aspirine.
     - Súcmiệngnướcmuối
     - Chúng ta ăn chế độ ăn lỏng và nhẹ, uống nhiều nước, tránh sử dụng các thức ăn, nước uống có vị chua.
     - Chườm ấm hoặc chườm mát vùng góc hàm để giảm đau và giảm sưng tuyến nước bọt. Có thể dùng bài thuốc nam sau đây để bôi tại chỗ: hạt gấc đập bỏ vỏ ngoài, giã nhuyễn, ngâm với rượu trắng bôi tại vùng  má bị sưng 4 - 5 lần/ngày.
Các bạn vừa được nghe tuyên truyền về biểu hiện và phương pháp phòng bệnh quai bị, chúc các bạn mạnh khỏe và học tập đạt kết quả thật tốt các bạn nhé.
    
  BỆNH THỦY ĐẬU
1.Bệnh thủy đậu là gì?
Bệnh thủy đậu hay có tên khác là bệnh bỏng rạ ( hay còn gọi là bệnh trái rạ), gây ra do virus có tên Varicella Zoster. Là bệnh truyền nhiễm cấp tính, rất hay lay, dễ gây thành dịch và có thể gây ra những biến chứng nặng. Theo nghiên cứu, bệnh Thuỷ đậu chỉ gặp ở người, ở mọi lứa tuổi và xảy ra ở mọi nơi trên thế giới, đặc biệt là những nơi đông đúc như nhà trẻ, trường học hay gặp nhất ở trẻ nhỏ dưới 10 tuổi. Đặc điểm lâm sàng nổi bật là: phát ban kiểm mụn nước trên da và niêm mạc.
Bệnh thường diễn biến lành tính nhưng đôi khi có thể gây tử vong do những biến chứng trầm trọng như nhiễm trùng huyết, viêm não - màng não. Phụ nữ có thai khi mắc Thuỷ đậu có thể sinh con mắc dị tật bẩm sinh.
2. Nguyên nhân xuất hiện bệnh.
Nguyên nhân gây bệnh là do sự suy yếu của hệ miễn dịch, không thể bảo vệ cơ thể trước sự tấn công của các virus gây bệnh trong đó có bệnh thủy đậu.
3. Đường lây truyền.
Đường lây truyền chủ yếu qua đường hô hấp: Virus có trong nước bọt của bệnh nhân do ho, hắt hơi,  tiếp xúc với nước bọt, qua đường không khí khi giao tiếp nói chuyện với người bệnh thủy đậu. Ngoài ra bệnh còn lây do tiếp xúc trực tiếp với tổn thương bóng nước thủy đậu. Bệnh còn có thể lây lan qua do dùng chung quần áo, khăn mặt, bàn chải đánh răng. Người mẹ trong lúc mang thai bị thủy đậu cũng có thể lây truyền sang thai nhi.
4. Các triệu chứng của bệnh
- Sốt nhẹ từ 2-3 ngày, cơ thể mệt mỏi, chán ăn. Sau đó, sẽ thấy nổi những nốt chấm đỏ ở đầu đầu tiên, sau đó lan, chân, gây ra cảm giác rất ngứa ngáy. Những chấm đỏ này sẽ lớn đần thành nốt đỏ chứa nước bên trong.
- Đặc trưng của bệnh thủy đậu là ngứa, phát ban ngoài da, ban sẩn có mụn nước thường kèm theo sốt. Người bệnh thường có dấu hiệu ban đầu là sốt, mệt mỏi, biếng ăn, đau cơ. Sau đó các nốt rạ xuất hiện ở da đầu, mặt, đến bụng, ngực rồi lan xuống tay, chân gây ngứa ngáy, đau nhức rất khó chịu. Mụn nước có phần lõm ở giữa, mụn nước lúc đầu chứa chất dịch trong, chỉ sau một ngày dịch trở nên đục như mủ. Sau 3-5 ngày, mụn nước đóng vảy, rồi rụng dần.  
- Bệnh thủy đậu là một căn bệnh không nguy hiểm nếu không có biến chứng
5. Các biến chứng của bệnh thủy đậu:
- Bội nhiễm da: thường gặp nhất, xảy ra do bệnh nhân làm gãi làm vỡ các mụn nuớc gây nhiễm khuẩn và để lại sẹo vĩnh viễn, nặng hơn vi khuẩn xâm nhập vào máu gây ra nhiễm trùng máu.
- Viêm phổi : Thường gặp ở người lớn. người bệnh sốt cao, thờ nhanh, đau ngực, ho ra máu. Đây là một biến chứng nguy hiểm đe dọa tính mạng bệnh nhân, nhất là phụ nữ có thai bị thủy đậu trong 6 tháng đầu của thai kỳ.
- Viêm não: người bệnh đi đứng loạng choạng, rung giật nhãn cầu, co giật…
- Hội chứng Reye: Xảy ra trong giai đoạn mọc mụn mà cho trẻ uống Aspirin để hạ sốt.
- Dị tật bẩm sinh: Phụ nữ mang thai dở tháng thứ 3 mà bị bệnh thủy đậu thì trẻ sinh ra có thể bị dị tật như sẹo ở chi, chậm lớn, đầu nhỏ, đục thủy tinh thể…
6. Cách chăm sóc và phòng ngừa bệnh thủy đậu
Để thực hiện tốt việc chăm sóc người bệnh và phòng chống lây lan cho những người xung quanh, chúng ta cần:
* Đối với người bệnh
- Cách ly: Nằm trong phòng riêng, thoáng khí., có ánh sáng mặt trời, thời gian cách ly là khoảng 7 - 10 ngày từ lúc bắt đầu phát hiện bệnh (phát ban) cho đến khi các nốt phỏng nước khô vảy hoàn toàn (người lớn phải nghỉ làm, học sinh phải nghỉ học).
- Sử dụng các vật dụng sinh hoạt cá nhân riêng: khăn mặt, ly, chén, muỗng, đũa….
- Vệ sinh mũi họng hàng ngày bằng dung dịch nước muối sinh lý 9%o.
- Thay quần áo và tắm rửa hàng ngày bằng nước ấm trong phòng tắm.
- Nên mặc quần áo rộng, nhẹ, mỏng.
- Đối với trẻ em: nên cắt móng tay cho trẻ, giữ móng tay trẻ sạch hoặc có thể dùng bao tay vải để bọc tay trẻ nhằm tránh biến chứng nhiễm trùng da thứ phát do trẻ gãi gây trầy xước các nốt phỏng nước.
- Ăn các thức ăn mềm, lỏng, dễ tiêu, uống nhiều nước, nhất là nước hoa quả.
- Dùng dung dịch xanh Milian (xanh Methylene) để chấm lên các nốt phỏng nước đã vỡ.
- Trường hợp sốt cao, có thể dùng các thuốc hạ sốt giảm đau thông thường nhưng phải theo hướng dẫn của thầy thuốc, có thể dùng kháng sinh trong trường hợp nốt rạ bị nhiễm trùng: nốt rạ có mũ, tấy đỏ vùng da xung quanh... Tuyệt đối không được dùng thuốc Aspirin để hạ sốt.
- Nếu bệnh nhân cảm thấy: Khó chịu, lừ đừ, mệt mỏi, co giật, hôn mê hoặc có xuất huyết trên nốt rạ nên đưa đến ngay các cơ sở y tế để được theo dõi và điều trị.
*Đối với người thân:
- Hạn chế tiếp xúc với người bệnh: Khi cần tiếp xúc thì phải đeo khẩu trang. Sau khi tiếp xúc phải rửa tay ngay bằng xà phòng. Đặc biệt những phụ nữ đang mang thai cần tuyệt đối tránh tiếp xúc với người bệnh.
- Vệ sinh phòng ở của người bệnh: Lau sàn phòng, bàn ghế, tủ giường, đồ chơi của người bệnh hàng ngày bằng nước Javel, hoặc dung dịch Cloramin B sau đó rửa lại bằng nước sạch. Đối với những đồ vật nhỏ có thể đem phơi nắng.
- Tiêm ngừa vắc xin: là biện pháp an toàn và hiệu quả nhất để phòng ngừa bệnh Thủy đậu. Vắc xin đã được chứng minh là có hiệu quả bảo vệ cao (>97%) và kéo dài.
- Những người sống và làm việc trong môi trường tập thể với người đang mắc bệnh, người chuẩn bị đi đến vùng đang có dịch bệnh, trẻ em từ 12 tháng tuổi trở lên nên tiêm vắc xin ngừa Thủy đậu. Việc chủ động tiêm ngừa sẽ giúp cho các trẻ em được trang bị đầy đủ vũ khí chống lại bệnh, giúp cho những ai chưa từng bị thủy đậu không còn phải lo lắng vì bệnh này, vừa giúp cho ngành y tế chủ động phòng chống làm hạn chế dịch bệnh xảy ra.
BỆNH SỐT XUẤT HUYẾT
1. Nguyên nhân của bệnh, cách lây truyền :
     Bệnh SXH do virus Dengue ( Đen- gơ) gây nên. Virus Dengue lây truyền từ người bệnh sang người lành qua loài muỗi có tên là Aedes aegypti ( An-des-ê-gyp-ti) thường được gọi là muỗi vằn.
     Muỗi vằn có màu đen, trên thân và chân có những đốm trắng. Muỗi thường đậu ở quần áo, chăn, màn trong nhà.
    Muỗi vằn hoạt động hút máu và ban ngày, cao nhất là vào sáng sớm và chiều tối.
* Lưu ý : Dịch SXH thường xảy ra theo mùa, dịch bắt đầu từ tháng 4 và kéo dài đến cuối năm, cao nhất vào tháng 7,8,9,10. Cả người lớn và trẻ em đều có thể bị mắc SXH.
    Vòng đời của muỗi vằn trải qua 4 giai đoạn : trứng,  bọ gậy, lăng quăng , muỗi trưởng thành.
2. Biểu hiện của bệnh:
    Sốt cao đột ngột, kéo dài từ 2-7 ngày, mệt mỏi, đau đầu, đau nhức các khớp.
    Có ban đỏ, xuất huyết da, chảy máu cam, nôn ra máu, đi ngoài phân đen…
3. Cách phòng chống bệnh sốt xuất huyết
   - Dùng thuốc xịt muỗi, nhang diệt muỗi, vợt muỗi bằng điện…
   -  Thoa kem chống muỗi đốt, mặc quần áo dài tay đối với trẻ em, ngủ màn kể cả ban ngày…
  -  Sắp xếp quần áo, đồ vật trong nhà gọn gàng, ngăn nắp.
  -  Thường xuyên cọ, súc rửa chai, lọ, chum vại, phi… , dùng bàn chà chà sát để loại bỏ trứng muỗi bám vào thành dụng cụ. Đậy nắp không cho muỗi vào đẻ trứng.
 -   Đối với những dụng cụ chứa nước lớn không thể xúc rửa hoặc đậy nắp được ta có thể thả cá diệt lăng quăng, bọ gậy.
  -  Đối với các dụng cụ khác: bát kê chân chạn, lọ hoa, chậu cây cảnh… thay nước ít nhất một lần trong một tuần, cho muối ăn hoặc dầu lin vào bát kê chân chạn, cọ rửa thành của vật dụng để loại bỏ trứng.
   - Loại trử ổ bọ gậy bằng cách phá hủy hoặc loại bỏ những ổ nước tự nhiên hay nhân tạo trong và xung quanh nơi ở.
  - Thu dọn rác ( chai, lọ, bát  vỡ, vỏ hộp nhựa, lốp xe hỏng, vỏ gáo dừa…)
 -  Lấp các hốc cây bằng xi măng, cát, sửa chữa các máng nước bị hỏng, khơi thông cống rãnh bị tắc nghẽn.
  -  Dọn dẹp vệ sinh xung quanh nhà sạch sẽ.
- Vì sức khỏe của mỗi gia đình và của cả cộng đồng. B ác Nguyễn V ăn Khoa kêu gọi tất cả h ọc sinh  hãy quan tâm thực hiện tốt các biện pháp phòng chống bệnh sốt xuất huyết với khẩu hiệu: “ Không có lăng quăng, không có muỗi vằn, không có sốt xuất huyết”

 

 
    Qua buổi tuyên truyền các em học  sinh đã  biết cách phòng chống bệnh một cách tốt nhất  để bảo vệ sức khoẻ cho mình và gia đình.
Thay mặt  các thầy cô giáo cùng các em học sinh trường Tiểu học trân trọng cảm ơn  và  kính  chúc  sức  khoẻ bác . Kính mong bác luôn dành sự quan tâm đến các em  học  sinh trường Tiểu học.
NGƯỜI VIẾT
PHÓ HIỆU TRƯỞNG



LÊ THỊ LÝ
 




Ý kiến - đóng góp Ý kiến - đóng góp
Thông tin liên hệ:

Trường Tiểu học Thụy

Xin để lại Email, Thông tin liên hệ sau phần nội dung, Ban giám hiệu sẽ trả lời bạn sớm nhất!

Cảm ơn bạn rất nhiều!

Mã xác nhận Mã xác nhận Tạo mã khác