Giới thiệu trường Giới thiệu trường
Văn bản cấp trên Văn bản cấp trên
Thông báo Thông báo
Số liệu - báo cáo Số liệu - báo cáo
Hệ điều kiện Hệ điều kiện
Liên kết website Liên kết website
Trả lời ý kiến - đóng góp Trả lời ý kiến - đóng góp
Hiển thị mẫu bình chọn Hiển thị mẫu bình chọn
Theo bạn, trang Thông tin điện tử này như thế nào?

a. Rất tốt
b. Tạm được
c. Chưa đạt
d. Kém

Bản in

  

 

SỬ DỤNG BẢN ĐỒ TƯ DUY TRONG DẠY HỌC MÔN NGỮ VĂN

 

 

 

 

A. ĐẶT VẤN ĐỀ

1. Cơ sở lí luận:  

 Ngữ văn là môn học có vai trò rất quan trọng trong đời sống và trong sự phát triển tư duy của con người. Đồng thời môn học này có tầm quan trọng trong việc giáo dục quan điểm, tư tưởng, tình cảm cho học sinh.  

 Nếu đã từng thực sự biết khám phá, hiểu sâu và lĩnh hội hết những giá trị tư tưởng cũng như nghệ thuật của những tác phẩm văn học, chắc hẳn ai cũng có thể nhận thấy những chức năng đặc thù của văn học trong việc bồi đắp tâm hồn, hình thành nhân cách học sinh.Văn học trang bị những cảm xúc nhân văn, giúp con người hướng tới Chân - Thiện - Mỹ. Nhờ có Văn học mà đời sống tinh thần của con người ngày càng giàu có, phong phú, tinh tế hơn. Tâm hồn trở nên bớt chai sạn, thờ ơ, bàng quan trước những số phận, cảnh đời diễn ra xung quanh mình hàng ngày, trước thiên nhiên và tạo vật. Điều này càng quan trọng khi chúng ta đang sống trong guồng quay hối hả của cuộc sống hiện đại. Văn học bồi đắp cho học sinh lòng yêu nước, thái độ trân trọng truyền thống, và ngôn ngữ mẹ đẻ... Thời nào cũng vậy, tác phẩm Văn học chân chính có khả năng kì diệu là thanh lọc tâm hồn con người, làm người “gần người hơn”.  Môn Ngữ văn còn có vai trò quan trọng trong việc rèn luyện khả năng sử dụng ngôn ngữ, diễn đạt, cách thức tạo lập các loại văn bản phục vụ cho quá trình giao tiếp trên mọi lĩnh vực của mỗi người trong cuộc sống.

 2. Cơ sở thực tiễn:

Mặc dầu có vị trí, chức năng quan trọng đặc biệt như vậy nhưng hiện nay đang xuất hiện tình trạng nhiều học sinh không thích học môn Ngữ văn. Tỉ lệ học sinh thi vào các trường khối C càng ngày càng ít. Một số học sinh chọn thi khối C

không phải vì thích hoặc có khả năng học các môn khoa học xã hội mà chỉ vì  không đủ khả năng để thi vào khối nào khác. Nhiều bậc phụ huynh cũng than phiền về việc con em mình không thích đọc sách văn học bằng các loại truyện tranh chỉ mang ý nghĩa giải trí đơn thuần. Qua các kỳ thi, các bài kiểm tra môn Ngữ văn, có thể nhận thấy có nhiều học sinh học theo kiểu đối phó, học vẹt, lạm dụng tài liệu tham khảo, không chú trọng kỹ năng diễn đạt, dùng câu, từ......

Qua công tác giảng dạy cũng như chấm trả các bài kiểm tra Ngữ văn, tôi nhận thấy có rất nhiều những biểu hiện thể hiện tâm lý chán học văn của học sinh , cụ thể là:

- Học  sinh thờ ơ với Văn: Những năm gần đây, nhiều người quan tâm đến công tác giáo dục không khỏi lo ngại trước một thực trạng, đó là tâm lý thờ ơ với việc học văn ở các trường phổ thông. Điều đáng buồn nhất cho các giáo viên dạy văn là nhiều học sinh có năng khiếu văn cũng không muốn tham gia đội tuyển văn. Các em còn phải dành thời gian học các môn khác. Phần lớn phụ huynh khi đã định hướng cho con mình sẽ thi khối A thì chỉ chủ yếu chú trọng ba môn: Toán, Lý, Hóa. Điều đáng lo ngại hơn nữa, là có không ít phụ huynh đã chọn hướng cho con thi khối A từ khi học tiểu học.

  - Khả năng trình bày: Khi HS tạo lập một văn bản giáo viên có thể dễ dàng nhận ra những lỗi sai cơ bản của học sinh như: dùng từ sai, viết câu sai, viết chính tả sai, bố cục và lời văn hết sức lủng củng, thiếu logic. Đặc biệt có những bài văn diễn đạt ngô nghê, tối nghĩa, lủng củng ...

Một bộ phận không nhỏ học sinh không thích học Ngữ văn và yếu kém về năng lực cảm thụ văn chương không chỉ gây bi quan đối với dư luận xã hội mà còn tác động tiêu cực đến người dạy. Nhiều thầy cô giáo dạy văn đã xuất hiện tâm lí chán nản, buông xuôi, không có động lực để trau dồi chuyên môn, tạo sức ỳ lớn trong tư duy đổi mới, cải tiến phương pháp giảng dạy.

 

3. Mục đích nghiên cứu

Mục tiêu của bậc học phổ thông là đào tạo con người toàn diện, nhưng thực tế hiện nay cho thấy, các bộ môn khoa học xã hội thường bị học sinh xem nhẹ, mặc dù kiến thức của các bộ môn này vô cùng quan trọng cho tất cả mọi người. Muốn khôi phục sự quan tâm của xã hội đối với các bộ môn khoa học xã hội, không thể chỉ bằng biện pháp kêu gọi mà chúng ta phải tích cực đổi mới phương pháp dạy học văn để khôi phục động lực học tập, khơi dậy niếm say mê, tình yêu văn học của học sinh bằng những giờ dạy thực sự hấp dẫn, lôi cuốn từ đó  hình thành cho các em phương pháp học văn hiệu quả nhất.

Năm học 2013 - 2014 là năm học Bộ giáo dục và đào tạo tiếp tục đổi mới phương pháp dạy học nhằm nâng cao chất lượng dạy và học trong các nhà trường phổ thông. Một trong những phương pháp dạy học mới và hiện đại nhất được đưa vào là phương pháp dạy học bằng bản đồ tư duy (BĐTD) - một phương pháp dạy học mới đang được rất nhiều nước trên thế giới áp dụng. Qua việc tìm hiểu và vận dụng phương pháp dạy học bằng bản đồ tư duy, tôi nhận thấy phương pháp dạy học này rất có hiệu quả trong công tác giảng dạy và học tập của học sinh. Bước đầu đã giảm bớt được tâm lý ngại học văn, khơi gợi trong học sinh tình yêu đối với môn học, đồng thời đem đến cho các em cái nhìn mới, tư duy mới về môn học Ngữ văn. Vậy thế nào là phương pháp dạy học bằng bản đồ tư duy? Cần sử dụng bản đồ tư duy như thế nào để nâng cao chất lượng trong các giờ học văn? Đó là những vấn đề tôi muốn cùng được chia sẻ với các đồng nghiệp trong sáng kiến :        SỬ DỤNG BẢN ĐỒ TƯ DUY TRONG DẠY HỌC MÔN NGỮ VĂN

4. Đối tượng , phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng : Sử dụng BĐTD trong  hoạt động dạy và  học

- Phạm vi : Môn Ngữ văn Trường THCS Thụy Dương

 

B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ.

1. Vai trò của bản đồ tư duy (BĐTD)

  - Bản đồ tư duy còn gọi là sơ đồ tư duy, lược đồ tư duy... là hình thức ghi chép sử dụng màu sắc, hình ảnh để mở rộng và đào sâu các ý tưởng. BĐTD là một công cụ tổ chức tư duy nền tảng, có thể miêu tả nó là một kĩ thuật hình họa với sự kết hợp giữa từ ngữ, hình ảnh, đường nét, màu sắc phù hợp với cấu trúc, hoạt động và chức năng của bộ não, giúp con người khai thác tiềm năng vô tận của bộ não.

   BĐTD giúp học sinh có được phương pháp học hiệu quả hơn: Việc rèn luyện phương pháp học tập cho HS không chỉ là một biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học mà còn là mục tiêu dạy học. Thực tế cho thấy một số học sinh  học rất chăm chỉ nhưng vẫn học kém, các em thường học bài nào biết bài đấy, học phần sau đã quên phần trước và không biết liên kết các kiến thức với nhau, không biết vận dụng kiến thức đã học trước đó vào những phần sau. Phần lớn số học sinh  khi đọc sách hoặc nghe giảng trên lớp không biết cách tự ghi chép để lưu thông tin, lưu kiến thức trọng tâm vào trí nhớ của mình. Sử dụng thành thạo BĐTD trong dạy học sẽ giúp học sinh  có được phương pháp học, tăng tính độc lập, chủ động, sáng tạo và phát triển tư duy.

     BĐTD - giúp học sinh  học tập một cách tích cực. Một số kết quả nghiên cứu cho thấy bộ não của con người sẽ hiểu sâu, nhớ lâu và in đậm cái mà do chính mình tự suy nghĩ, tự viết, vẽ ra theo ngôn ngữ của mình .Việc HS vẽ BĐTD có ưu điểm là phát huy tối đa tính sáng tạo của học sinh, các em được tự do chọn màu sắc ( xanh, đỏ, tím, vàng…), đường nét (đậm, nhạt, thẳng, cong..), các em tự “ sáng tác” nên trên mỗi BĐTD thể hiện rõ cách hiểu, cách trình bày kiến thức của từng học sinh và BĐTD do các em tự thiết kế nên các em sẽ yêu quý, trân trọng “ tác phẩm” của mình.Vì vậy việc sử dụng BĐTD giúp học sinh  học tập một cách tích cực, huy động tối đa tiềm năng của bộ não.

 

 2. Phương tiện để thiết kế bản đồ tư duy  

Phương tiện để thiết kế BĐTD khá đơn giản, chỉ cần giấy, bìa, bảng phụ, phấn màu, bút chì màu, tẩy,…hoặc dùng phần mềm inMindmap, vì vậy có thể vận dụng với bất kì điều kiện cơ sở vật chất nào của các nhà trường hiện nay. Điều quan trọng là GV hướng cho HS có thói quen lập BĐTD trước hoặc sau khi học một bài hay một chủ đề, một chương, để giúp các em có cách sắp xếp kiến thức một cách khoa học, lôgic.

3. Các bước thiết lập bản đồ tư duy.

Bước 1 : Xác định từ khóa

Bước 2 : Vẽ chủ đề ở trung tâm.

- Sử dụng một tờ giấy trắng (không kẻ ô) đặt nằm ngang và vẽ chủ đề ở chính giữa tờ giấy. Giấy trắng không kẻ ô sẽ giúp cho người vẽ sáng tạo hơn, không bị những ô vuông cản trở suy nghĩ . Vẽ trên giấy nằm ngang sẽ giúp có được không gian rộng lớn hơn để triển khai các ý.

- Vẽ chủ đề ở chính giữa tờ giấy, từ đó mới phát triển ra các ý khác ở xung quanh nó.

- Có thể tự do sử dụng tất cả các màu sắc , chủ đề trung tâm có thể là chữ hoặc là hình, nếu kết hợp cả 2 thì càng tốt

- Chủ đề trung tâm cần gây sự chú ý để chúng ta dễ nhìn nhận vấn đề, do đó nên vẽ chủ đề to , rõ ràng .

Bước 3 : Vẽ thêm các tiêu đề phụ (nhánh cấp 1)

- Tiêu đề phụ nên được viết bằng CHỮ IN HOA nằm trên các nhánh dày để làm nổi bật

 Tiêu đề phụ nên gắn liền với trung tâm

- Tiêu đề phụ nên được vẽ theo hướng chéo góc chứ không nằm ngang, như vậy nhiều nhánh phụ khác có thể được vẽ tỏa ra một cách dễ dàng hơn.

Bước 4 : Vẽ các nhánh cấp 2, cấp 3, …

- Ở bước này, vẽ nối tiếp nhánh cấp 2 vào nhánh cấp 1, nhánh cấp 3 vào nhánh cấp 2, v.v… để tạo ra sự liên kết.

- Nên vẽ nhiều nhánh cong hơn đường thẳng, như thế sẽ làm cho mind map nhìn mềm mại, uyển chuyển và dễ nhớ hơn

- Chỉ nên tận dụng từ khóa và hình ảnh, ở mỗi nhánh chỉ sử dụng 1 từ khóa. Việc này giúp cho nhiều từ khóa mới và những ý khác được nối thêm vào các từ khóa sẵn có một cách dễ dàng. Hãy dùng những biểu tượng, cách viết tắt để tiết kiệm không gian và thời gian bất cứ lúc nào có thể.

- Tất cả các nhánh của một ý nên tỏa ra từ một điểm và có cùng 1 màu.

Bước 5 : Thêm các hình ảnh minh họa

Ở bước này, nên để trí tưởng tượng của mình bay bổng hơn bằng cách thêm nhiều hình ảnh nhằm giúp các ý quan trọng thêm nổi bật, cũng như lưu chúng vào trí nhớ mình tốt hơn vì não bộ của con người có khả năng tiếp thu hình ảnh cao hơn chữ viết. Đừng  ngại mình vẽ xấu, cứ vẽ theo những gì bạn nghĩ, những gì bạn liên tưởng, đôi khi càng hài hước càng giúp bạn nhớ chúng được lâu hơn.

4. Vận dụng bản đồ tư duy trong dạy học môn Ngữ Văn.                              4.1.* Sử dụng BĐTD trong việc kiểm tra kiến thức cũ
Vì thời gian kiểm tra bài cũ lúc đầu giờ không nhiều chỉ khoảng 5 - 7 phút nên yêu cầu của giáo viên thường không quá khó, không đòi hỏi nhiều sự phân tích, so sánh…để trả lời câu hỏi. Giáo viên thường yêu cầu học sinh tái hiện lại một phần nội dung bài học bằng cách gọi học sinh lên bảng trả lời câu hỏi. Giáo viên sẽ chấm điểm tuỳ vào mức độ thuộc bài của học sinh. Cách làm này vô tình để nhiều học sinh rơi vào tình trạng học vẹt, đọc thuộc lòng mà không hiểu. Do đó, cần phải có sự thay đổi trong việc kiểm tra, đánh giá nhận thức của học sinh, yêu cầu đặt ra không chỉ kiểm tra “phần nhớ” mà cần chú trọng đến “phần hiểu”. Cách làm này vừa tránh được việc học vẹt, vừa đánh giá chính xác học sinh, đồng thời nâng cao chất lượng học tập. Sử dụng BĐTD vừa giúp giáo viên kiểm tra được phần nhớ lẫn phần hiểu của học sinh đối với bài học cũ. Các bản đồ được giáo viên đưa ra ở dạng thiếu thông tin, yêu cầu học sinh điền các thông tin còn thiếu và rút ra nhận xét về mối quan hệ của các nhánh thông tin với từ khoá trung tâm.

Việc hoàn thiện thông tin ở các nhánh còn thiếu là một yêu cầu đơn giản, không mất thời gian nhưng nếu học sinh không học bài thì sẽ không điền được thông tin hoặc điền không chính xác.

Ví dụ minh hoạ:

- Trước khi học bài “Đề văn biểu cảm và cách làm bài văn biểu cảm”( Ngữ văn 7 - Tập 1), giáo viên sẽ kiểm tra bài : Đặc điểm của văn biểu cảm. Giáo viên đưa dữ liệu là từ trung tâm (Văn  biểu cảm ) và vẽ các nhánh phụ để trống thông tin ( 5 nhánh tương ứng với 5 đặc điểm) và yêu cầu học sinh lên bảng hoàn thành bài tập bằng BĐTD.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Sau khi học sinh hoàn thành bài tập , giáo viên cho các học sinh khác nhận xét , chỉnh sửa và bổ sung để hoàn thiện kiến thức về Đặc điểm của văn biểu cảm . Như vậy , không chỉ học sinh được gọi lên bảng phải nhớ kiến thức mà tất cả các học sinh khác đều cùng tham gia vào quá trình này , nhờ đó giáo viên dễ dàng kiểm tra được  ý thức học bài  của nhiều học sinh thay vì một , hai em như cách kiểm tra cũ.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 


               Bản đồ tư duy bài : Đặc điểm của văn biểu cảm ( Ngữ văn 7 ).

4.2.* Sử dụng BĐTD trong việc giảng bài mới
Sử dụng BĐTD là một gợi ý cho cách trình bày mới. Giáo viên thay vì gạch đầu dòng các ý cần trình bày lên bảng thì sử dụng BĐTD để thể hiện được 1 phần hoặc toàn bộ nội dung bài học một cách rất trực quan. Toàn bộ nội dung cần truyền đạt đến học sinh được thâu tóm trên bản đồ mà không bị sót ý. Học sinh thay vì cắm cúi ghi chép thì chọn lọc các thông tin quan trọng, sơ đồ hoá chúng bằng các mối quan hệ và thể hiện lại theo cách hiểu của mình. Với cách học này cả giáo viên và học sinh đều phải tham gia vào quá trình dạy học tích cực hơn. Giáo viên vừa giảng bài vừa thể hiện trên BĐTD hoặc vừa tổ chức cho học sinh khai thác kiến thức vừa hoàn thành BĐTD. Học sinh được nghe giảng,  trả lời câu hỏi, đọc sách giáo khoa, ghi chép…sự tập trung chú ý được phát huy, cường độ học tập theo đó cũng được đẩy nhanh, học sinh học tập tích cực hơn.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

- Ví dụ minh họa

 - Khi hướng dẫn học sinh đọc - hiểu văn bản “ Thông tin về ngày Trái Đất năm 2000”( Ngữ văn 8 tập 1 ) , để tìm hiểu về tác hại của bao bì ni lông, giáo viên đưa từ khoá “ Tác hại của bao bì nilông" rồi cho học sinh theo dõi kênh chữ sách giáo khoa kết hợp với hình ảnh minh hoạ , đặt các câu hỏi gợi mở  để học sinh hoàn thành nội dung bằng SĐTD.

 
 

 

 

               Sơ đồ tư duy : Những tác hại của bao bì nilông ( Ngữ văn 8 tập 1)

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 


- VD2 : Văn bản " Đức tính giản dị của Bác Hồ "

Khi cho học sinh tìm hiểu Luận điểm 1 : Giản dị trong lối sống hàng ngày, giáo viên cho học sinh theo dõi kênh chữ sách giáo khoa ( từ Con người Bác …… ngày nay”) và hoàn thành sơ đồ tư duy

Tương tự như vậy , giáo viên có thể vận dụng phương pháp dạy học này cho nhiều bài học khác nhau  đảm bảo cung cấp đủ kiến thức cho học sinh, kích thích hứng thú học tập của các em, thậm chí có thể giúp học sinh nhớ kiến thức bài mới ngay trên lớp

 
 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 


4.3.* Sử dụng BĐTD trong việc củng cố kiến thức
Sử dụng BĐTD để củng cố kiến thức bài học là vệc làm rất có hiệu quả. Giáo viên sử dụng BĐTD để thể hiện lại những nội dung cơ bản của bài học, tránh bị bỏ sót ý, khắc sâu những kiến thức trọng tâm. Học sinh sử dụng BĐTD để thể hiện lại sự hiểu biết của mình qua việc tiếp thu nội dung bài học, đồng thời là một kênh thông tin phản hồi mà qua đó giáo viên có thể đánh giá nhận thức của học sinh, định hướng cho từng học sinh và điều chỉnh cách dạy, cách truyền đạt của mình cho phù hợp.
Phù hợp với mục đích củng cố kiến thức cho học sinh sau bài học thì dạng bài tập thích hợp là điền thông tin còn thiếu vào BĐTD. Các thông tin còn thiếu này sẽ bao trùm nội dung toàn bài để một lần nữa nhằm khắc sâu kiến thức và lưu ý đến trọng tâm của bài học.

Ví dụ minh hoạ:

 

Khi học bài “ Truyện Kiều” của Nguyễn Du ( Môn Ngữ văn lớp 9), cuối giờ GV cho từ khoá “ Truyện Kiều ” rồi yêu cầu học sinh vẽ BĐTD bằng cách đặt câu hỏi gợi ý cho các em, sau khi các nhóm HS vẽ xong, cho một số em lên trình bày trước lớp để các học sinh khác bổ sung ý. Giáo viên kết luận qua đó giúp các em tự chiếm lĩnh kiến thức một cách nhẹ nhàng, tự nhiên nhưng rất hiệu quả, đồng thời kích thích hứng thú học tập của học sinh.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 


 

Một số ví dụ minh họa khác:

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

  Sơ đồ tư duy củng cố bài học văn bản : Thông tin về ngày Trái Đất năm 2000

( Ngữ văn 8 )

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

       Sơ đồ tư duy củng cố bài học văn bản : Tiếng gà trưa - Ngữ văn 7

 

 

 

 

Sơ đồ tư duy củng cố bài học văn bản : Hồi hương ngẫu thư - Ngữ văn 7

 

4.4.* Sử dụng BĐTD để ra bài tập về nhà
Vì làm bài tập về nhà sẽ có nhiều thời gian và điều kiện để tìm kiếm tài liệu nên bài tập về nhà mà giáo viên giao cho học sinh (hoặc nhóm học sinh) trước hết phải gắn với nội dung bài học và trong điều kiện cho phép (trình độ học sinh, thời gian, kinh tế…). Yêu cầu đối với bài về nhà cũng cần khó hơn, phức tạp hơn và cần sự đầu tư lớn hơn (cả kênh chữ, kênh hình, màu sắc, lượng thông tin…), qua đó còn thể hiện cả tính sáng tạo và sự tích cực tìm kiếm tài liệu học tập của học sinh. Bài tập về nhà nên thiên về tính mở nên giáo viên cần định hướng cho học sinh cách tìm kiếm thông tin từ các nguồn tài liệu, đặc biệt là từ mạng Internet bằng cách cung cấp cho học sinh một số trang web thông dụng và chuẩn xác.
4.5.* Sử dụng BĐTD để tổng hợp kiến thức 1 chương hoặc nhiều bài học
Dùng BĐTD có thể thể hiện một lượng thông tin nhỏ đến lớn và rất lớn. Tương tự, giáo viên và học sinh có thể thể hiện 1 phần nội dung bài học, 1 bài học hoặc nhiều bài học, 1 chương kiến thức. Vấn đề là các nội dung này có điểm chung với nhau, có mối quan hệ với nhau thông qua từ khóa. Tùy theo mục đích sử dụng mà có thể thiết kế BĐTD trong giờ học thông thường, trong giờ kiểm tra, ôn tập, tổng kết hay hệ thống một nội dung, một phần kiến thức. Với bài tập này, giáo viên có thể cùng học sinh làm ngay tại lớp hoặc là bài tập giao về nhà cho học sinh, nhóm học sinh.

Ví dụ minh hoạ :

Khi dạy phần từ loại Tiếng Việt, giáo viên cho học sinh vẽ BĐTD sau mỗi bài học để mỗi em có 1 tập BĐTD về các từ loại Tiếng Việt: danh từ, động từ, tính từ, số từ, đại từ, quan hệ tự, trợ từ, thán từ…. Lên đến lớp 9, trong bài “ Tổng Kết ngữ pháp”, học sinh có thể dễ dàng tổng hợp kiến thức về từ loại Tiếng Việt bằng  BĐTD dựa vào tập BĐTD đã có. Sau khi có một học sinh hoặc một nhóm học sinh vẽ xong BĐTD sẽ cho một học sinh khác, nhóm khác nhận xét, bổ sung … Có thể cho học sinh vẽ thêm các đường, nhánh khác và ghi thêm các chú thích… rồi thảo luậ n chung trước lớp để hoàn thiện, nâng cao kĩ năng vẽ BĐTD cho các em.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

               

                      Bản đồ tư duy bài “Tổng kết ngữ pháp”- Ngữ văn 9

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Một số ví dụ minh họa

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

                     

 

 

 

 

 

 

 

 

               Bản đồ tư duy : Ôn tập văn biểu cảm ( Ngữ văn 7)

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Nhìn chung, có thể sử dụng BĐTD trong tất cả các khâu của quá trình lên lớp từ kiểm tra bài cũ, triển khai bài mới đến củng cố kiến thức, giao bài về nhà; từ việc thể hiện lượng kiến thức nhỏ đến lớn, từ đơn giản đến phức tạp; từ việc học cá nhân đến nhóm, tập thể…Giáo viên cần nghiên cứu nội dung chương trình, nội dung bài học, lựa chọn ra những phần, những bài có khả năng áp dụng BĐTD. Sau đó, giáo viên phân tích nội dung cho học sinh, xác định các dạng bài tập với BĐTD phù hợp với đối tượng học sinh, quỹ thời gian, điều kiện trường lớp, trang

thiết bị dạy học.

5.Kết quả đạt được

Sau một thời gian ứng dụng BĐTD trong đổi mới phương pháp dạy học nói chung và đổi mới phương pháp dạy học môn Ngữ văn nói riêng ở trường THCS Thụy Dương đã bước đầu có những kết quả khả quan. Giáo viên đã nhận thức được vai trò tích cực của ứng dụng BĐTD trong hỗ trợ đổi mới phương pháp dạy học. Học sinh hiểu bài nhanh hơn, hiệu quả hơn .Đa số các em học sinh khá, giỏi đã biết sử dụng BĐTD để ghi chép bài, tổng hợp kiến thức môn học. Một số HS trung bình đã biết dùng BĐTD để củng cố kiến thức bài học ở mức đơn giản.

- Đối với môn Ngữ văn, học sinh rất hào hứng trong việc ứng dụng BĐTD để ghi chép bài nhanh, hiệu quả, đặc biệt là trong học Tiếng Việt.

Dưới  đây là  bảng so sánh kết quả học tập của học sinh  trước và sau khi  ¸p dông kinh nghiÖm ( lấy từ kết quả phiếu thăm dò ý kiến học sinh )

Thời gian

Số lượng

ThÝch häc

B×nh th­êng

Kh«ng thÝch

SL

%

SL

%

SL

%

Trước

227

60

26.4

82

36.1

85

37.5

Sau

227

81

35.7

90

39.6

56

24.7

 

-Thực tế kết quả khảo sát học kì I các môn Ngữ văn 6,7,8  năm học 2012-2013 của trường THCS Thụy Dương đều vượt bình quân chung của cụm và huyện ( Ngữ văn 6 : vượt 4,5 %, Ngữ văn 7 vượt 3,2 %, Ngữ văn 8 vượt 1,1 % ) trong đó đề thi có một câu liên quan đến bản đồ tư duy ( vẽ BĐTD tái hiện lại kiến thức đã học )

- Kết quả khảo sát hàng tháng , học kì và cuối năm môn Ngữ văn năm học 2013-2014 các khối lớp điểm số cũng tăng  lên đáng kể .

6 . Bài học kinh nghiệm

Không thể phủ nhận BĐTD là một công cụ hữu ích trong giảng dạy và học tập ở trường phổ thông cũng như ở các bậc học cao hơn vì chúng giúp giáo viên và học sinh trong việc trình bày các ý tưởng một cách rõ ràng, suy nghĩ sáng tạo, tích cực

và độc lập. Học sinh sẽ học được phương pháp học tập, tăng tính chủ động, sáng tạo và phát triển tư duy. Giáo viên sẽ tiết kiệm được thời gian, tăng sự linh hoạt trong bài giảng, và quan trọng nhất sẽ giúp học sinh nắm được kiến thức thông qua một “bản đồ” thể hiện các liên kết chặt chẽ của tri thức.
Tuy nhiên, không phải bất cứ nội dung nào, bài học nào cũng có thể sử dụng BĐTD và cũng không phải sử dụng một cách áp đặt cho mọi giờ học. Cũng như các thiết bị dạy học khác, BĐTD cũng có những ưu điểm và hạn chế riêng của mình, do đó sử dụng BĐTD cần đúng lúc, đúng cách, phù hợp với đối tượng học sinh và quan trọng là đảm bảo việc truyền tải nội dung bài học. Do đó, giáo viên cần có sự linh hoạt trong sử dụng BĐTD, cần xác định một số căn cứ để sử dụng BĐTD cho phù hợp, lựa chọn phương pháp, hình thức tổ chức, thiết bị dạy học cho tương xứng.

- Không nên quá cực đoan cho rằng BĐTD có thể giúp người học tất cả. Trên cơ sở những kiến thức được hệ thống hoá, sơ đồ hoá, người học còn phải biết thực hành ngôn ngữ băng việc đọc, nói và viết.

- Đối với văn bản nghị luận, việc sử dụng BĐTD hỗ trợ đọc hiểu các văn bản sẽ là thuận lợi. Nhưng với văn bản nghệ thuật, muốn dùng BĐTD để biểu hiện một văn bản, người học phải tìm ra mạch của văn bản đó (xét đơn thuần về mặt ý).

- BĐTD không tái hiện được cảm xúc, không chuyển tải hết sự tinh tuý trong cách dùng từ, đặt câu, trong nghệ thuật cấu trúc tác phẩm. Vì vậy, sử dụng BĐTD trong dạy học là cần thiết, nhưng phải tránh được sự suy diễn khô khan dẫn đến xã hội hoá  tác phẩm.

Thực tế cho thấy, bên cạnh năng lực chuyên môn, tình yêu văn chương và tâm huyết của các thầy cô giáo có thể cảm hoá được học sinh, để lại trong học sinh nhiều ấn tượng sâu đậm, từ đó gieo vào học sinh niềm say mê khám phá, chiếm lĩnh tác phẩm. Môn Ngữ văn chỉ thực sự hấp dẫn đối với học sinh khi giờ dạy của giáo viên thực sự có “lửa”, khi người giáo viên nhập thân hết mình vào bài giảng.

 

 

 

 

7. Kiến nghị , đề xuất.

- Phòng giáo dục nên tổ chức các lớp học tập, tập huấn chuyên môn đặc biệt là vấn đề  đổi mới phương pháp dạy học bằng cách ứng dụng BĐTD trong dạy học.

- Phòng nên tổ chức thường xuyên các buổi hội thảo, chuyên đề  nhưng ở các thời điểm khác nhau với những bài khác nhau để giáo viên được học tập chuyên môn nhằm không ngừng nâng cao tay nghề.

- Tổ chức các giờ dạy thực nghiệm để giáo viên chúng tôi được học tập, trao đổi kinh nghiệm.

-Tăng cường hơn nữa đồ dùng, thiết bị dạy học cho bộ môn Ngữ Văn.

C. KẾT LUẬN

Việc vận dụng BĐTD trong dạy học sẽ dần hình thành cho HS tư duy mạch lạc, hiểu biết vấn đề một cách sâu sắc, có cách nhìn vấn đề một cách hệ thống, khoa học. Sử dụng BĐTD kết hợp với các phương pháp dạy học tích cực khác như vấn đáp gợi mở, thuyết trình… có tính khả thi cao góp phần đổi mới PPDH từ đó nâng cao chất lượng dạy học nói chung và môn Ngữ văn nói riêng.

Trên đây là một số ý kiến của tôi về vấn đề  ứng dụng bản đồ tư duy trong dạy học Ngữ văn. Những ý kiến này chắc chắn sẽ còn những thiếu sót, cần bổ sung. Vậy kính mong các đồng nghiệp tham gia đóng góp ý kiến để cùng đưa ra những giải pháp hữu hiệu nhất góp phần đưa môn Ngữ văn trở về đúng vị trí của nó, trả lại sự yêu thích môn học này cho các em học sinh mọi lứa tuổi.

Xin chân thành cảm ơn !

                                                                            Thụy D­¬ng ngµy 15/2 /2014

                                                                                               Ng­êi viÕt:

 

 

 

 

 

 

 

 

                                                                   Ph¹m ThÞ T­¬i

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO:

1. Sách giáo khoa Ngữ văn 6,7,8,9.

2. Sách giáo viên Ngữ văn 6,7,8,9.

3. Tài liệu chuẩn kiến thức, kỹ năng môn Ngữ văn.

4. Sử dụng bản đồ tư duy trong dạy học Ngữ văn THCS - Dự án phát triển GD THCS II - Bộ GD & ĐT - T.S Nguyễn Văn Nam.

5. Sử dụng bản đồ tư duy góp phần tổ chức hoạt động học tập của học sinh- Tạp chí Khoa học giáo dục, số chuyên đề TBDH năm 2009 - Trần Đình Châu, Đặng Thị Thu Thủy.

6. Website: www.mind-map.com

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 


PHỤ LỤC

STT

NỘI DUNG

TRANG

1

A. Đặt vấn đề

 

2

     1. Cơ sở lí luận

1

3

    2. Cơ sở thực tiễn

2

4

3. Mục đích nghiên cứu

3

5

4. Đối tượng , phạm vi

3

6

B. Giải quyết vấn đề

4

7

     1. Vai trò của bản đồ tư duy

4

8

    2 - 3. Phương tiện , các bước thiết kế bản đồ tư duy

5

9

    4. Vận dụng BĐTD trong dạy học Ngữ văn

6

10

4.1. Vận dụng BĐTD trong kiểm tra kiến thức cũ

6

11

4.2. Vận dụng BĐTD trong dạy bài mới

8

12

4.3. Vận dụng BĐTD trong củng cố kiến thức bài học

11

13

4.4. Vận dụng BĐTD ra bài tập về nhà

15

14

4.5. Vận dụng BĐTD trong tổng kết kiến thức một nội dung , một chủ đề

15

15

5. Kết quả đạt được

19

16

6 - 7 .  Bài học kinh nghiệm  - Kiến nghị, đề xuất

20 - 21

17

C. Kết luận

21

18

Tài liệu tham khảo

22

19

Phụ lục

23

 

 

 

 


XÁC NHẬN CỦA NHÀ TRƯỜNG       XÁC NHẬN CỦA TỔ CHUYÊN MÔN




Ý kiến - đóng góp Ý kiến - đóng góp
Thông tin liên hệ:

Trường THCS Thụy Dương

Xin để lại Email, Thông tin liên hệ sau phần nội dung Comment, Ban giám hiệu nhà trường sẽ trả lời bạn sớm nhất!

Cảm ơn bạn rất nhiều!

Mã xác nhận Mã xác nhận Tạo mã khác